Sejinaqua cung cấp máy lọc nước nóng lạnh trực tiếp. Liên hệ ngay với chúng tôi để nhận đc nhiều ưu đãi
Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016
Chủ Nhật, 23 tháng 10, 2016
Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016
Thứ Hai, 17 tháng 10, 2016
Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016
Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016
Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016
Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016
Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2016
Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016
Tiết kiệm tài nguyên nước p1
Tiết kiệm tài nguyên nước p1
Hiện
nay; đã có nhiều hoạt động tuyên truyền chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ
tài nguyên nước; đưa ra nhiều biện pháp nhằm kêu gọi tất cả các thành viên
trong xã hội nâng cao ý thức; cùng hành động tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên
thiên nhiên này. Và
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống; quyết định sự thành công trong các chiến lược; quy hoạch; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng; an ninh quốc gia. Và Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Và Nguy cơ thiếu nước; đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Và Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước. Và
Hiện nay; đã có nhiều hoạt động tuyên truyền chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ tài nguyên nước; đưa ra nhiều biện pháp nhằm kêu gọi tất cả các thành viên trong xã hội nâng cao ý thức; cùng hành động tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Và Bảo vệ tài nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách; nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên và môi trường trong tương lai lâu dài; vì đó là sự sống còn của chính chúng ta và con cháu sau này. Và
Tài nguyên nước là thành phần chủ yếu của môi trường sống; quyết định sự thành công trong các chiến lược; quy hoạch; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quốc phòng; an ninh quốc gia. Và Hiện nay nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này đang phải đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt. Và Nguy cơ thiếu nước; đặc biệt là nước ngọt và sạch là một hiểm họa lớn đối với sự tồn vong của con người cũng như toàn bộ sự sống trên trái đất. Và Do đó con người cần phải nhanh chóng có các biện pháp bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước. Và
Hiện nay; đã có nhiều hoạt động tuyên truyền chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ tài nguyên nước; đưa ra nhiều biện pháp nhằm kêu gọi tất cả các thành viên trong xã hội nâng cao ý thức; cùng hành động tích cực bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên này. Và Bảo vệ tài nguyên nước là nhiệm vụ cấp bách; nó không chỉ đáp ứng các yêu cầu trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự nghiệp bảo vệ Tài nguyên và môi trường trong tương lai lâu dài; vì đó là sự sống còn của chính chúng ta và con cháu sau này. Và
A. Và PHÂN BỐ CỦA NƯỚC TRÊN TRÁI ĐẤT
Lượng
nước tự nhiên có 97% là nước mặn phân bổ ở biển và đại dương; 3;5% còn lại phân
bố ở đất liền. Và
Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được rất ít và chỉ có thể khai thác được từ các nguồn sau:
Tổng lượng nước lớn nhưng lượng nước ngọt mà con người có thể sử dụng được rất ít và chỉ có thể khai thác được từ các nguồn sau:
1. Và Nước ngọt trên bề mặt đất:
- Lượng
nước mưa rơi xuống mặt đất;
- Nước tồn tại trong các sông; rạch; ao; hồ;
- Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết. Và
- Nước tồn tại trong các sông; rạch; ao; hồ;
- Một phần rất ít nước từ đầm lầy và băng tuyết. Và
Sự phân bố của nước trên đất liền:
2. Và
Nước ngọt trong lòng đất:
Nước dưới đất có loại nước mặn; nước lợ và nước ngọt; trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định. Và Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá. Và
Nước dưới đất có loại nước mặn; nước lợ và nước ngọt; trong đó nước ngọt chỉ có lưu lượng nhất định. Và Nước dưới đất được tàng trữ trong các lỗ hổng và khe hở đất đá. Và
Hình 2: Các tầng chứa nước dưới đất
a) Tầng chứa nước:
Các lớp đất đá có thành phần hạt thô (cát; sạn; sỏi); khe hở; nứt nẻ; có tính thấm nước; dẫn nước tốt mà con người có thể khai thác nước phục vụ cho nhu cầu của mình gọi là các tầng chứa nước. Và
b) Tầng
cách nước:
Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét; bột sét); có hệ số thấm nhỏ; khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu; khả năng khai thác nước trong tầng này thấp. Và
Là tầng đất đá với thành phần hạt mịn (sét; bột sét); có hệ số thấm nhỏ; khả năng cho nước thấm xuyên qua yếu; khả năng khai thác nước trong tầng này thấp. Và
B. Và TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc; đây là một ưu điểm để
phát triển kinh tế vì chúng không những cung cấp lượng nước ngọt khá lớn cho
nền kinh tế nước nhà mà còn giúp tăng cường hệ thống giao thông thủy. Và Toàn
Việt Nam có 9 hệ thống sông lớn: Sông Cửu Long; sông Đồng Nai; sông Mã; sông Cả;
sông Thái Bình; sông Thu Bồn; sông Ba. Và Lượng nước có thể chủ động sử dụng là
325x109 m3/ngày. Và Ngoài ra còn có 460 hồ vừa và lớn. Và
Hàng năm; Việt Nam có lượng mưa trung bình là 2. Và050 mm trong
năm; cao nhất là 2. Và640mm và thấp nhất là 1. Và600 mm và tập trung chủ yếu
vào các tháng 7;8 và 9 chiếm đến 90% lượng mưa của cả năm; đây là nguồn nước
ngọt dồi dào bổ cấp cho nước sông rạch và nước dưới đất . Và
Trữ lượng nước dưới đất ở Việt Nam dồi dào; nằm trong các tầng
chứa nước. Và Trữ lượng nước dưới đất theo các tài liệu thăm dò vào khoảng 1;2x109
m3/ngày; thăm dò sơ bộ là 15x109 m3/ngày. Và
Theo thống kê đến năm 2005 cho thấy; nhiều tỉnh thành trong cả
nước đang khai thác nước dưới đất với lưu lượng khá lớn sử dụng cho sinh hoạt
và sản xuất Công nghiệp; Nông nghiệp Dịch vụ. Và
Hà Nội
: 750 000 m3/ngày
Thành phố Hồ Chí Minh : 1. Và600. Và000 m3/ngày
Tây Nguyên : 500 000 m3/ngày
Thành phố Hồ Chí Minh : 1. Và600. Và000 m3/ngày
Tây Nguyên : 500 000 m3/ngày
CÁC CHỈ
TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC - MỘT SỐ BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Nguồn nước có thể sử dụng được cho các mục đích khác nhau của con người; chúng ta phải xác định các tính chất vật lý; tính chất hóa học của nước để đánh giá chất lượng nguồn nước. Và Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước dựa vào các yếu tố sau:
Nguồn nước có thể sử dụng được cho các mục đích khác nhau của con người; chúng ta phải xác định các tính chất vật lý; tính chất hóa học của nước để đánh giá chất lượng nguồn nước. Và Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng nguồn nước dựa vào các yếu tố sau:
I. Và TÍNH CHẤT VẬT LÝ
1. Và
Nhiệt độ:
Nhiệt độ của nước ổn định và phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Và Nhiệt độ của nước ảnh hưởng đến quá trình xử lý và các nhu cầu tiêu thụ. Và
Nhiệt độ của nước ổn định và phụ thuộc vào điều kiện môi trường. Và Nhiệt độ của nước ảnh hưởng đến quá trình xử lý và các nhu cầu tiêu thụ. Và
2. Và
Độ màu:
Màu của nước do các chất lơ lửng trong nước tạo nên; các chất lơ lửng này có thể là thực vật hoặc các chất hữu cơ dưới dạng keo. Và Độ màu không gây độc hại đến sức khỏe. Và
Màu của nước do các chất lơ lửng trong nước tạo nên; các chất lơ lửng này có thể là thực vật hoặc các chất hữu cơ dưới dạng keo. Và Độ màu không gây độc hại đến sức khỏe. Và
3. Và
Độ đục:
Độ đục để đánh giá sự có mặt của các chất lơ lửng trong nước ảnh hưởng đến độ truyền ánh sáng. Và Độ đục không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình lọc và khử trùng nước. Và
Độ đục để đánh giá sự có mặt của các chất lơ lửng trong nước ảnh hưởng đến độ truyền ánh sáng. Và Độ đục không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình lọc và khử trùng nước. Và
4. Và
Mùi vị:
Các chất khí; khoáng và một số hóa chất hòa tan trong nước làm cho nước có mùi. Và Các mùi vị thường gặp: mùi đất; mùi tanh; mùi thúi; mùi hóa học đặc trưng như Clo; amoniac; vị chát; mặn; chua…
Các chất khí; khoáng và một số hóa chất hòa tan trong nước làm cho nước có mùi. Và Các mùi vị thường gặp: mùi đất; mùi tanh; mùi thúi; mùi hóa học đặc trưng như Clo; amoniac; vị chát; mặn; chua…
5. Và
Cặn:
Gồm có cặn lơ lửng và cặn hòa tan (vô cơ và hữu cơ); cặn không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước. Và
Gồm có cặn lơ lửng và cặn hòa tan (vô cơ và hữu cơ); cặn không gây độc hại đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước. Và
6. Và
Tính phóng xạ:
Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên; thường nước này vô hại đôi khi có thể dùng để chữa bệnh. Và Nhưng nếu chỉ tiêu này bị nhiễm bởi các chất phóng xạ từ nước thải; không khí; từ các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép thì rất nguy hiểm. Và
Nước ngầm thường nhiễm các chất phóng xạ tự nhiên; thường nước này vô hại đôi khi có thể dùng để chữa bệnh. Và Nhưng nếu chỉ tiêu này bị nhiễm bởi các chất phóng xạ từ nước thải; không khí; từ các chất độc hại vượt quá giới hạn cho phép thì rất nguy hiểm. Và
II. Và TÍNH CHẤT HÓA HỌC
1. Và
Độ pH:
Phản ánh tính axit hay tính kiềm của nước. Và pH ảnh hưởng đến các hoạt động sinh học trong nước; tính ăn mòn; tính hòa tan. Và
Phản ánh tính axit hay tính kiềm của nước. Và pH ảnh hưởng đến các hoạt động sinh học trong nước; tính ăn mòn; tính hòa tan. Và
2. Và
Độ axít:
Trong nước thiên nhiên độ axít là do sự có mặt của CO2; CO2 này hấp thụ từ khí quyển hoặc từ quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải công nghiệp (chiếm đa số) và nước phèn. Và Độ axít không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước cấp và nước thải. Và
Trong nước thiên nhiên độ axít là do sự có mặt của CO2; CO2 này hấp thụ từ khí quyển hoặc từ quá trình oxy hóa các chất hữu cơ trong nước thải công nghiệp (chiếm đa số) và nước phèn. Và Độ axít không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng ảnh hưởng đến quá trình xử lý nước cấp và nước thải. Và
3. Và
Độ kiềm:
Do 3 ion chính HCO3-; OH-; CO32-làm cho nước có độ kiềm. Và Nước có độ kiềm cao làm cho người sử dụng nước cảm thấy khó chịu trong người. Và Độ kiềm ảnh hưởng đến quá trình keo tụ; khử sắt; làm mềm nước; kiểm tra độ ăn mòn; khả năng đệm của nước thải; của bùn. Và
Do 3 ion chính HCO3-; OH-; CO32-làm cho nước có độ kiềm. Và Nước có độ kiềm cao làm cho người sử dụng nước cảm thấy khó chịu trong người. Và Độ kiềm ảnh hưởng đến quá trình keo tụ; khử sắt; làm mềm nước; kiểm tra độ ăn mòn; khả năng đệm của nước thải; của bùn. Và
4. Và
Độ cứng:
Độ cứng của nước biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+. Và Độ cứng không gây độc hại đến sức khỏe con người; nhưng dùng nước có độ cứng cao sẽ tiêu hao nhiều xà bông khi giặt đồ; tăng độ ăn mòn đối với các thiết bị trao đổi nhiệt; nồi hơi tạo nên cặn bám; khe nứt gây nổ nồi hơi. Và
Độ cứng của nước biểu thị hàm lượng các ion Ca2+ và Mg2+. Và Độ cứng không gây độc hại đến sức khỏe con người; nhưng dùng nước có độ cứng cao sẽ tiêu hao nhiều xà bông khi giặt đồ; tăng độ ăn mòn đối với các thiết bị trao đổi nhiệt; nồi hơi tạo nên cặn bám; khe nứt gây nổ nồi hơi. Và
5. Và
Clorua (Cl-):
Clorua trong nước biểu thị độ mặn. Và Clorua không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng dùng lâu sẽ gây nên bệnh thận. Và
Clorua trong nước biểu thị độ mặn. Và Clorua không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng dùng lâu sẽ gây nên bệnh thận. Và
6. Và
Sunfat (SO42-):
Sunfat tiêu biểu cho nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nước có nguồn gốc khoáng chất hoặc hữu cơ. Và Sunfat gây độc hại đến sức khỏe con người vì sunfat có tính nhuận tràng. Và Nước có Sunfat cao sẽ có vị chát; uống vào sẽ gây bệnh tiêu chảy. Và
Sunfat tiêu biểu cho nguồn nước bị nhiễm phèn hoặc nước có nguồn gốc khoáng chất hoặc hữu cơ. Và Sunfat gây độc hại đến sức khỏe con người vì sunfat có tính nhuận tràng. Và Nước có Sunfat cao sẽ có vị chát; uống vào sẽ gây bệnh tiêu chảy. Và
7. Và
Sắt (Fe2+; Fe3+):
Tồn tại trong nước dạng sắt 3 (dạng keo hữu cơ; huyền phù); dạng sắt 2 (hòa tan). Và Sắt cao tuy không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng nước sẽ có mùi tanh khó chịu và nổi váng bề mặt; làm vàng quần áo khi giặt; hư hỏng các sản phẩm ngành dệt; giấy; phim ảnh; đồ hộp; đóng cặn trong đường ống và các thiết bị khác làm tắc nghẽn các ống dẫn nước. Và
Tồn tại trong nước dạng sắt 3 (dạng keo hữu cơ; huyền phù); dạng sắt 2 (hòa tan). Và Sắt cao tuy không gây độc hại đến sức khỏe con người nhưng nước sẽ có mùi tanh khó chịu và nổi váng bề mặt; làm vàng quần áo khi giặt; hư hỏng các sản phẩm ngành dệt; giấy; phim ảnh; đồ hộp; đóng cặn trong đường ống và các thiết bị khác làm tắc nghẽn các ống dẫn nước. Và
8. Và
Mangan (Mg2+):
Mangan có trong nước với hàm lượng thấp hơn sắt nhưng cũng gây nhiều trở ngại giống như sắt. Và
Mangan có trong nước với hàm lượng thấp hơn sắt nhưng cũng gây nhiều trở ngại giống như sắt. Và
9. Và
Ôxy hòa tan (DO):
Ôxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố: nhiệt độ; áp suất và đặc tính của nguồn nước (thành phần hóa học; vi sinh; thủy sinh). Và Xác định lượng ôxy hòa tan là phương tiện để kiểm soát ô nhiễm và kiểm tra hiệu quả xử lý. Và
Ôxy hòa tan trong nước phụ thuộc vào các yếu tố: nhiệt độ; áp suất và đặc tính của nguồn nước (thành phần hóa học; vi sinh; thủy sinh). Và Xác định lượng ôxy hòa tan là phương tiện để kiểm soát ô nhiễm và kiểm tra hiệu quả xử lý. Và
10. Và
Nhu cầu ôxy hóa học (COD):
Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước. Và Nước nhiễm bẩn sẽ có độ ôxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng. Và
Là lượng ôxy cần thiết để ôxy hóa hết các hợp chất hữu cơ có trong nước. Và Nước nhiễm bẩn sẽ có độ ôxy hóa cao phải tốn nhiều hóa chất cho công tác khử trùng. Và
11. Và
Nhu cầu Ôxy sinh hóa (BOD):
Là lượng ôxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí. Và Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước. Và BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng. Và
Là lượng ôxy cần thiết để vi khuẩn sử dụng phân hủy chất hữu cơ dưới điều kiện hiếu khí. Và Chỉ tiêu này để đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước. Và BOD càng cao chứng tỏ mức độ ô nhiễm càng nặng. Và
12. Và
Florua (F-):
Trong thiên nhiên; các hợp chất của florua khá bền vững; ít bị phân hủy bởi quá trình làm sạch. Và Nếu thường xuyên dùng nước có florua lớn hơn 1;3mg/l hoặc nhỏ hơn 0;7mg/l đều dễ mắc bệnh hư hại men răng. Và
Trong thiên nhiên; các hợp chất của florua khá bền vững; ít bị phân hủy bởi quá trình làm sạch. Và Nếu thường xuyên dùng nước có florua lớn hơn 1;3mg/l hoặc nhỏ hơn 0;7mg/l đều dễ mắc bệnh hư hại men răng. Và
13. Và
Dihydro sunfua (H2S):
Khí này là sản phẩm của quá trình phân hủy các chất hữu cơ; rác thải. Và Khí này làm nước có mùi trứng thối khó chịu; với nồng độ cao; nó có tính ăn mòn vật liệu. Và
Khí này là sản phẩm của quá trình phân hủy các chất hữu cơ; rác thải. Và Khí này làm nước có mùi trứng thối khó chịu; với nồng độ cao; nó có tính ăn mòn vật liệu. Và
14. Và
Các hợp chất của axít Silicic (Si):
Trong nước nếu có các hợp chất axit silicic sẽ rất nguy hiểm do cặn silicát lắng động trên thành nồi; thành ống làm giảm khả năng truyền nhiệt và gây tắc ống. Và
Trong nước nếu có các hợp chất axit silicic sẽ rất nguy hiểm do cặn silicát lắng động trên thành nồi; thành ống làm giảm khả năng truyền nhiệt và gây tắc ống. Và
15. Và
Phốt phát (PO42-):
Có phốt phát vô cơ và phốt phát hũu cơ. Và Trong môi trường tự nhiên; phốt phát hữu cơ hầu hết là những chất mang độc tính mạnh dưới dạng thuốc diệt côn trùng; các vũ khí hóa học. Và Phốt phát làm hóa chất bón cây; chất kích thích tăng trưởng; chất tạo bọt trong bột giặt; chất làm mềm nước; kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật; phiêu sinh vật; tảo… phốt phát gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trừơng. Và
Có phốt phát vô cơ và phốt phát hũu cơ. Và Trong môi trường tự nhiên; phốt phát hữu cơ hầu hết là những chất mang độc tính mạnh dưới dạng thuốc diệt côn trùng; các vũ khí hóa học. Và Phốt phát làm hóa chất bón cây; chất kích thích tăng trưởng; chất tạo bọt trong bột giặt; chất làm mềm nước; kích thích tăng trưởng nhiều loại vi sinh vật; phiêu sinh vật; tảo… phốt phát gây nhiều tác động trong việc bảo vệ môi trừơng. Và
16. Và
Nitơ (N) và các hợp chất chứa Nitơ (NH4+; NO2-; NO3-):
Sự phân hủy của rác thải; các chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt; nước thải công nghiệp tạo thành các sản phẩm amoniac; nitrít; nitrát. Và Sự hiện diện của các hợp chất này là chất chỉ thị để nhận biết trạng thái nhiễm bẩn của nguồn nước. Và
Sự phân hủy của rác thải; các chất hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt; nước thải công nghiệp tạo thành các sản phẩm amoniac; nitrít; nitrát. Và Sự hiện diện của các hợp chất này là chất chỉ thị để nhận biết trạng thái nhiễm bẩn của nguồn nước. Và
17. Và
Kim loại nặng: có mặt lợi và mặt hại:
- Mặt lợi: với hàm lượng hữu ích; giúp duy trì và điều hòa những hoạt động của cơ thể. Và
- Mặt hại: với hàm lượng cao gây khó chịu hoặc dẫn đến ngộ độc. Và
- Mặt lợi: với hàm lượng hữu ích; giúp duy trì và điều hòa những hoạt động của cơ thể. Và
- Mặt hại: với hàm lượng cao gây khó chịu hoặc dẫn đến ngộ độc. Và
18. Và
Các thành phần độc hại khác:
Là thành phần các chất mà chỉ tồn tại trong nước với một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người; thậm chí gây tử vong; đó là các chất: Asen (As); Berili (Be); Cadimi (Cd); Xyanua (CN); Crôm (Cr); Thủy ngân (Hg); Niken (Ni); Chì (Pb); Antimoan (Sb); Selen (Se); Vanadi (V). Và Một vài gam thủy ngân hoặc Cadimi có thể gây chết người; với hàm lượng nhỏ hơn chúng tích lũy trong các bộ phận của cơ thể cho tới lúc đủ hàm lượng gây ngộ độc. Và Chì tích lũy trong xương; Cadimi tích lũy trong thận và gan; thủy ngân tích lũy trong các tế bào não. Và
Là thành phần các chất mà chỉ tồn tại trong nước với một hàm lượng rất nhỏ cũng đủ gây độc hại đến tính mạng con người; thậm chí gây tử vong; đó là các chất: Asen (As); Berili (Be); Cadimi (Cd); Xyanua (CN); Crôm (Cr); Thủy ngân (Hg); Niken (Ni); Chì (Pb); Antimoan (Sb); Selen (Se); Vanadi (V). Và Một vài gam thủy ngân hoặc Cadimi có thể gây chết người; với hàm lượng nhỏ hơn chúng tích lũy trong các bộ phận của cơ thể cho tới lúc đủ hàm lượng gây ngộ độc. Và Chì tích lũy trong xương; Cadimi tích lũy trong thận và gan; thủy ngân tích lũy trong các tế bào não. Và
19. Và
Chất béo và dầu mỡ:
Chất béo và dầu mỡ dễ phân tán và khuyết tán rộng. Và Chất béo đưa vào nguồn nước từ các nguồn nước thải; các lò sát sinh; công nghiệp sản xuất dầu ăn; lọc dầu; chế biến thực phẩm… Chất béo ngăn sự hòa tan ôxy vào nước; giết các vi sinh vật cần thiết cho việc tự làm sạch nguồn nước. Và
Chất béo và dầu mỡ dễ phân tán và khuyết tán rộng. Và Chất béo đưa vào nguồn nước từ các nguồn nước thải; các lò sát sinh; công nghiệp sản xuất dầu ăn; lọc dầu; chế biến thực phẩm… Chất béo ngăn sự hòa tan ôxy vào nước; giết các vi sinh vật cần thiết cho việc tự làm sạch nguồn nước. Và
20. Và
Thuốc diệt cỏ và trừ sâu:
Thuốc diệt cỏ và trừ sâu ngoài việc gây ô nhiễm vùng canh tác còn có khả năng lan rộng theo dòng chảy; gây ra các tổn thương trên hệ thần kinh nếu tiếp xúc lâu ngày; chúng cũng có thể tích tụ trong cơ thể gây ra những biến đổi gen hoặc các bệnh nguy hiểm. Và
Thuốc diệt cỏ và trừ sâu ngoài việc gây ô nhiễm vùng canh tác còn có khả năng lan rộng theo dòng chảy; gây ra các tổn thương trên hệ thần kinh nếu tiếp xúc lâu ngày; chúng cũng có thể tích tụ trong cơ thể gây ra những biến đổi gen hoặc các bệnh nguy hiểm. Và
21. Và
Tổng số vi trùng:
Chỉ tiêu này để đánh giá mật độ vi trùng trong nước; các vi khuẩn này hoặc sống trong nước; hoặc từ đất rửa trôi vào nước hoặc từ các chất bài tiết. Và Chỉ tiêu này không đánh giá về mặt độc hại đối với sức khỏe mà chỉ đánh giá chất lượng nguồn nước. Và
Chỉ tiêu này để đánh giá mật độ vi trùng trong nước; các vi khuẩn này hoặc sống trong nước; hoặc từ đất rửa trôi vào nước hoặc từ các chất bài tiết. Và Chỉ tiêu này không đánh giá về mặt độc hại đối với sức khỏe mà chỉ đánh giá chất lượng nguồn nước. Và
22. Và
Coliform:
Coliform sống ký sinh trong đường tiêu hóa của người và động vật; chỉ tiêu này dùng để xem xét sự nhiễm bẩn của nước bởi các chất thải. Và
Coliform sống ký sinh trong đường tiêu hóa của người và động vật; chỉ tiêu này dùng để xem xét sự nhiễm bẩn của nước bởi các chất thải. Và
23. Và
E. Và Coli:
Chỉ tiêu này đánh giá sự nhiễm phân của nguồn nước nhiều hay ít (nhiễm phân người hoặc động vật); gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người; đôi khi thành dịch bệnh lan truyền. Và
Chỉ tiêu này đánh giá sự nhiễm phân của nguồn nước nhiều hay ít (nhiễm phân người hoặc động vật); gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người; đôi khi thành dịch bệnh lan truyền. Và
III. Và CÁC BỆNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Hiện nay tỷ lệ người nhiễm giun sán; giun đũa; giun móc. Và. Và.
Và ở Việt Nam được xem là cao nhất thế giới. Và Những khảo sát gần đây cho thấy
gần 100% trẻ em từ 4 - 14 tuổi ở nông thôn nhiễm giun đũa; từ 50 - 80% nhiễm
giun móc. Và Các bệnh viêm da dị ứng; sán lá gan; lá lợn vẫn đang hoành hành…
"Vấn nạn" ô nhiễm nguồn nước và môi trường càng trở nên cấp bách hơn;
khi các loại bệnh xảy ra; đặc biệt là ỉa chảy; lỵ ngày càng có xu hướng gia
tăng. Và Trong 6 tháng đầu năm 2003; dịch bệnh viêm não cấp của trẻ nhỏ dưới 15
tuổi lây truyền qua đường tiêu hoá đã gây ra 323 ca mắc bệnh trong đó có 33 ca
tử vong. Và
Các
bệnh lây lan qua đường nước:
Hiện ở Việt Nam chưa phát hiện loại bệnh nào có liên quan đến asen; nhưng theo nhiều nghiên cứu của thế giới; người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có triệu chứng đầu tiên như có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi; đôi khi gây niêm mạc trên lưỡi hoặc sừng hoá trên bàn tay; bàn chân. Và Asen có thể gây ung thư gan; phổi; bàng quang và thận; gây bệnh tim mạch; cao huyết áp. Và. Và. Và
Hiện ở Việt Nam chưa phát hiện loại bệnh nào có liên quan đến asen; nhưng theo nhiều nghiên cứu của thế giới; người uống nước ô nhiễm asen lâu ngày sẽ có triệu chứng đầu tiên như có các đốm sẫm màu trên thân thể hay đầu các chi; đôi khi gây niêm mạc trên lưỡi hoặc sừng hoá trên bàn tay; bàn chân. Và Asen có thể gây ung thư gan; phổi; bàng quang và thận; gây bệnh tim mạch; cao huyết áp. Và. Và. Và
Trầm trọng hơn trong những năm gần đây xuất hiện các “Làng ung
thư” do ô nhiễm môi trường đặc biệt là sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm như ở Hà
Tây; Thạch Sơn; Nghệ An; Quảng Trị… do tiếp súc và sử dụng nguồn nước và môi
trường ô nhiễm trầm trọng trong thời gian dài. Và
Qua số liệu điều tra các hộ gia đình tại một số quận huyện ngoại
thành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như Củ Chi; Hóc Môn; Bình Chánh …; Các
gia đình đều sử dụng nước giếng khoan hoặc giếng đào nhưng phần lớn không có hệ
thống xử lý nước; nước bơm lên là dùng ăn uống trực tiếp; đây chính là nguyên
nhân dể mắc phải các chứng bệnh nêu trên. Và
Tiết kiệm tài nguyên nước p2
Tiết kiệm tài nguyên nước p2
Ngày nay; nhu cầu phát triển kinh tế nhanh với mục tiêu lợi
nhuận cao; con người đã lờ đi các tác động ảnh hưởng đến các nhân tố tự nhiên
và môi trường một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Và Đặc biệt đối với các nước
đang phát triển và các nước nghèo đã làm cho môi trường nước bị ô nhiễm ngày
càng trầm trọng hơn. Và
CÁC TÁC ĐỘNG GÂY SUY THOÁI CHẤT LƯỢNG NGUỒN NƯỚC
Sự gia tăng dân số quá nhanh là nguyên nhân chính gây áp lực lên
nguồn nước. Và Vì nhu cầu nước cho phát triển nông nghiệp để gia tăng lương
thực thực phẩm; phát triển công nghiệp để gia tăng hàng hóa và gia tăng thêm
nhiều hình thức dịch vụ…
I. Và ẢNH HƯỞNG DO HOẠT ĐỘNG SỐNG CỦA CON NGƯỜI
- Các dòng nước mặt (sông; kênh rạch…) đặc biệt là ở vùng đô thị
đều bị ô nhiễm trầm trọng bởi rác thải; nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư
xả vào kênh rạch chưa qua xử lý. Và Tình trạng lấn chiếm lòng; bờ sông kênh
rạch để sinh sống; xả rác và nước thải trực tiếp trên bề mặt gây ô nhiễm nước
mặt; cản trở lưu thông của dòng chảy; tắc nghẽn cống rãnh tạo nước tù. Và Môi
trường yếm khí gia tăng phân hủy các hợp chất hữu cơ; không những gây mùi hôi
thối; ô nhiễm nguồn nước và môi trường mà còn gây khó khăn trong việc lấy nguồn
nước mặt để xử lý thành nguồn nước sạch cấp cho nhu cầu xã hội. Và
- Nhu cầu nước sử dụng cho ăn uống; sinh hoạt và các hoạt động
khác của con người gia tăng; dẫn đến tình trạng khai thác nước dưới đất tràn
lan gây cạn kiệt nguồn nước và ảnh hưởng đến môi trường như sụp lún; nhiễm mặn…
- Nhiều giếng khoan thi công không đúng kỹ thuật (Kết cấu giếng
không tốt; giếng gần khu vực nhà vệ sinh; hệ thống xử lý nước thải…); giếng
khoan hư không được trám lấp là nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước. Và
- Nhiều sự cố gây thất thoát nước do đường ống dẫn nước cũ gẫy bể lâu ngày; rò rỉ nước từ van hư củ. Và Lười hoặc quên tắt van cũng là nguyên nhân gây lãng phí nước. Và
- Giữa nước mặn và nước nhạt có một ranh giới; khi họat động
khai thác nước dưới đất quá mức đường ranh giới này sẽ tiến dần đến công trình
khai thác; mực nước mặn xâm nhập dần; đẩy lùi mực nước ngọt vào sâu và làm
nhiễm mặn các công trình khai thác trong khu vực. Và Mặt khác do nước biển tràn
vào hoặc do con người dẫn nước biển vào sâu trong ruộng để làm muối; dẫn đến
xâm nhập mặn vào tầng chứa nước. Và
- Để gia tăng môi trường sống; con người phá rừng lấp đất; sang
ruộng cất nhà làm đường dẫn đến mất khả năng giữ nước của đất; lượng nước bề
mặt không được thấm bổ cập vào nước ngầm mà chảy vào sông rạch ra biển. Và
Ngoài ra còn gây ngập lụt; trược lỡ đất. Và
II. Và ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
- Việc chăn nuôi gia súc gia cầm ở hộ gia đình vùng nông thôn
còn chưa có ý thức tiết kiệm nguồn nước trong việc vệ sinh; vệ sinh chuồng trại;
chưa có hệ thống xử lý chất thải nước thải; phần lớn cho vào ao hồ; bể tự hoại
để thấm vào đất dễ gây ô nhiệm môi trường đặt biệt là nguồn nước ngầm. Và
- Việc nuôi các bè cá; bè tôm trực tiếp trên các dòng nước mặt
sông rạch đã làm ô nhiễm nguồn nước do một số nguyên nhân: thức ăn của cá dư
thừa; sự khuấy động nguồn nước; sự cản trở lưu thông dòng mặt. Và
- Nhiều giếng khoan ngoài ruộng vườn để tưới tiêu không đảm bảo
kỹ thuật gây nhiễm bẫn; nhiễm các hóa chất và thuốc trừ sâu …
- Với tình trạng sử dụng bừa bãi; tùy tiện các loại hóa chất
trong phân bón; các loại thuốc kích hoạt phát triển cây… Nhiều hệ thống kênh
mương tưới tiêu nội đồng đã bị ô nhiễm nguồn nước và phát tán rộng. Và
- Hệ thống tưới tiêu và hình thức tưới tiêu không hợp lý là
nguyên nhân gây thất thoát lưu lượng nước lớn trong ngành trồng trọt. Và
III. Và ẢNH HƯỞNG DO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ DỊCH VỤ
- Việc gia tăng nhiều nhà máy; xí nghiệp từ quy mô nhỏ hộ gia
đình đến quy mô lớn dẫn đến nhu cầu về nguồn nước tăng; không những nước phục
vụ cho sản xuất mà còn phục vụ sinh hoạt cho một số lượng lớn công nhân từ
nhiều vùng khác nhau tập trung về. Và Đặc biệt ở các khu vực chưa có hệ thống
cấp nước; mật độ khai thác nước dưới đất sẽ gia tăng nhanh; từ đó dẫn đến tình
trạng cạn kiệt nguồn nước và sụp lún đất. Và
- Các chất thải công nghiệp như khối; bụi…tạo nên mưa axít không
những làm thay đổi chất lượng nước ngọt; mà còn ảnh hưởng xấu đến đất và môi
trường sinh thái. Và
- Việc xả nước thải sản xuất từ các nhà máy; khu chế xuất khu
công nghiệp chưa được xử lý vào sông rạch; ao hồ gây ô nhiễm nước mặt; nước
dưới đất. Và Thậm chí có nơi còn cho nước thải chảy tràn trên mặt đất để tự
thấm xuống đất hoặc đào các hố dưới đất để xả nước thải làm ảnh hưởng nghiêm
trọng đến các tầng nước dưới đất. Và
IV. Và ẢNH HƯỞNG DO MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN KHÁC
- Hệ thống kênh rạch không được nạo vét dẫn đến tích tụ một khối
lượng lớn các vật chất hữu cơ từ nước thải; rác thải gây bồi lắng và ảnh hưởng
đến việc tiêu thoát của dòng nước. Và
- Các bãi chôn rác không đạt yêu cầu kỹ thuật; nước rỉ ra từ rác
thấm vào mạch nước ngầm hoặc cho chảy tràn trên mặt đất vào kênh rạch. Và
- Các dòng nước mặt trên sông; kênh rạch còn bị ô nhiễm do xăng
dầu của các tàu bè đi lại; hoặc các sự cố vận chuyển khác trên sông; biển. Và
- Ảnh hưởng do chưa có ý thức về sử dụng và bảo vệ nguồn nước
như sử dụng bừa bãi hoang phí; không đúng mục đích sử dụng. Và
Nguồn nước máy Hà Nội bị nhiễm Mangan
Nguồn nước máy Hà Nội bị nhiễm Mangan
Khảo sát bể nước tại các hộ gia đình ở Hà Nội cho thấy; hàm lượng amoni khá cao. Và Amoni sẽ chuyển hóa thành nitrit. Và Chất này kết hợp với các thành phần có trong thức ăn gây nên bệnh ung thư. Và
Không chỉ có lắng cặn bẩn
Khảo sát tại nhà ông Nguyễn Văn Quảng (Trương Định; Hà Nội) cho thấy; gia đình ông không hề chú ý đến việc vệ sinh bể chứa nước bằng inox. Và Bể đã được lắp đặt 2 năm nhưng chưa lần nào được sục rửa. Và Theo phản ánh của ông Quảng; có khi bể gần cạn; nước xả ra có lẫn cặn bẩn. Và Khi đó; nước chảy ra chậu biến thành màu đen với những cặn bẩn dạng hạt lấm tấm màu đen nâu; thậm chí có khi lẫn cả loăng quăng. Và Điều này cũng xảy ra đối với vòi nước lâu ngày không sử dụng. Và Trước đây; gia đình ông Quảng thường sử dụng nguồn nước này để nấu nước uống. Và Sau khi lọc; lớp cặn đen dạng hạt bám dày trên màng lọc. Và
Theo lời khuyên; ông Quảng đã làm vệ sinh bể chứa. Và Sau khi xả hết nước; mở bể chứa chùi rửa; ông Quảng mới phát hiện ra bể nước bẩn. Và. Và. Và quá sức tưởng tượng. Và Theo quan sát; xung quanh thành bể có màu nâu đen. Và Sờ tay vào; một lớp cặn bám dày đặc lẫn màng nhớt. Và Dưới đáy bể; cùng với số nước lấp xấp khoảng 10cm thì cũng là lớp cặn đen nâu bám dính đặc quyện trên thành. Và Soi kỹ; trong đó còn cả loăng quăng bơi lúc nhúc. Và Để vệ sinh bể; ông Quảng dùng khăn lau nhẹ; màng bẩn đã bong ra gần hết. Và
Cũng theo khảo sát của 10 gia đình sử dụng bể chứa nước dạng inox ở Trương Định cho thấy: Các gia đình này chưa bao giờ vệ sinh bể chứa nước. Và Nguyên nhân được đưa ra như vị trí bể nước đặt trên cao không thể chui vào sục bể hoặc không nghĩ nước bẩn như mức nêu trên. Và. Và. Và
PGS. VàTS Trần Hồng Côn; chuyên gia về nước thuộc Khoa Hóa; Đại học Khoa học Tự nhiên; Đại học Quốc Gia Hà Nội cho hay; bản thân ông đã có những khảo sát về bể nước ngầm trong dân. Và Kết quả phát hiện trong bể không chỉ có lắng cặn bẩn như trên mà còn có hàm lượng khí amoni cao; gây bất lợi cho sức khỏe người dùng nước. Và
Không chỉ có lắng cặn bẩn
Khảo sát tại nhà ông Nguyễn Văn Quảng (Trương Định; Hà Nội) cho thấy; gia đình ông không hề chú ý đến việc vệ sinh bể chứa nước bằng inox. Và Bể đã được lắp đặt 2 năm nhưng chưa lần nào được sục rửa. Và Theo phản ánh của ông Quảng; có khi bể gần cạn; nước xả ra có lẫn cặn bẩn. Và Khi đó; nước chảy ra chậu biến thành màu đen với những cặn bẩn dạng hạt lấm tấm màu đen nâu; thậm chí có khi lẫn cả loăng quăng. Và Điều này cũng xảy ra đối với vòi nước lâu ngày không sử dụng. Và Trước đây; gia đình ông Quảng thường sử dụng nguồn nước này để nấu nước uống. Và Sau khi lọc; lớp cặn đen dạng hạt bám dày trên màng lọc. Và
Theo lời khuyên; ông Quảng đã làm vệ sinh bể chứa. Và Sau khi xả hết nước; mở bể chứa chùi rửa; ông Quảng mới phát hiện ra bể nước bẩn. Và. Và. Và quá sức tưởng tượng. Và Theo quan sát; xung quanh thành bể có màu nâu đen. Và Sờ tay vào; một lớp cặn bám dày đặc lẫn màng nhớt. Và Dưới đáy bể; cùng với số nước lấp xấp khoảng 10cm thì cũng là lớp cặn đen nâu bám dính đặc quyện trên thành. Và Soi kỹ; trong đó còn cả loăng quăng bơi lúc nhúc. Và Để vệ sinh bể; ông Quảng dùng khăn lau nhẹ; màng bẩn đã bong ra gần hết. Và
Cũng theo khảo sát của 10 gia đình sử dụng bể chứa nước dạng inox ở Trương Định cho thấy: Các gia đình này chưa bao giờ vệ sinh bể chứa nước. Và Nguyên nhân được đưa ra như vị trí bể nước đặt trên cao không thể chui vào sục bể hoặc không nghĩ nước bẩn như mức nêu trên. Và. Và. Và
PGS. VàTS Trần Hồng Côn; chuyên gia về nước thuộc Khoa Hóa; Đại học Khoa học Tự nhiên; Đại học Quốc Gia Hà Nội cho hay; bản thân ông đã có những khảo sát về bể nước ngầm trong dân. Và Kết quả phát hiện trong bể không chỉ có lắng cặn bẩn như trên mà còn có hàm lượng khí amoni cao; gây bất lợi cho sức khỏe người dùng nước. Và
Lo ngại đối với bể ngầm
Theo PGS. VàTS Trần Hồng Côn; chất bẩn mà người dân thấy lắng cặn trong bể chứa nước chính là kim loại sắt và man gan. Và Các chất này vốn dĩ có trong nước sinh hoạt được các nhà máy nước cấp; nhưng do khâu lọc còn tồn dư nên bằng mắt thường người dân khó phát hiện ra. Và Khi dùng bể chứa; vô hình trung đã giúp lớp cặn lắng và tích lũy dần ở đáy bể. Và
Qua các khảo sát; sửa chữa lắp đặt các thiết bị lọc nước; KTS Nguyễn Tiến Hùng; Công ty Cổ phần Phú Lộc còn nhận thấy; lớp cặn trong bể chứa có thể đóng dày lên đến 10 - 20cm do người dân không vệ sinh. Và Lớp cặn này sẽ làm ảnh hưởng chất lượng nước nếu mực nước xuống thấp. Và
Giải thích về việc nước thỉnh thoảng bị bẩn khi vòi lâu ngày chưa được sử dụng; PGS. VàTS Trần Hồng Côn cho rằng; do chính lớp cặn bẩn này đóng trong vòi đã tạo ra một lớp màng. Và Cùng với đó; vật liệu bằng sắt của vòi nước cũng bị gỉ do tác động của oxy hóa. Và Khi nước được xả; áp suất nén của chính dòng nước đã khiến các chất bẩn trên bị cuốn theo ra ngoài. Và Riêng lớp nhớt có thể do nước bị nhiễm vi sinh vật lẫn chất nhớt do sắt và man gan tạo ra. Và. Và. Và
PGS. VàTS Trần Hồng Côn cảnh báo; đối với các bể ngầm; ngoài kết tủa cặn sắt và mangan thì hàm lượng amoni trong nước cao hơn. Và Do bể ngầm có thể có các sinh vật như gián; nhện rơi và chết trong nước tạo nên đạm. Và Lượng đạm này sẽ phân hủy trong môi trường yếm khí của bể nước dẫn đến amoni tăng cao. Và Amoni sẽ chuyển hóa thành nitrit. Và Chất này kết hợp với các thành phần có trong thức ăn gây nên bệnh ung thư. Và
Các chuyên gia khuyên; để an toàn cho các bể chứa nước; người dân nên vệ sinh bể chứa nước khoảng 6 tháng/lần. Và Đối với bể nước ngầm cần đóng kín; tránh côn trùng bò vào được. Và Ống nước lâu ngày không sử dụng; nên xả sạch lớp bẩn rồi hãy lấy nước đó sử dụng. Và
Hiện nay Bộ Y tế đang cho phép mức tồn dư trong nước sinh hoạt của sắt là 0;3mg/l; còn mangan là 0;5mg/l. Và Để xác định hàm lượng này có vượt quá hay không; người dân cần thường xuyên lấy nước sử dụng đi kiểm tra. Và
Theo PGS. VàTS Trần Hồng Côn; chất bẩn mà người dân thấy lắng cặn trong bể chứa nước chính là kim loại sắt và man gan. Và Các chất này vốn dĩ có trong nước sinh hoạt được các nhà máy nước cấp; nhưng do khâu lọc còn tồn dư nên bằng mắt thường người dân khó phát hiện ra. Và Khi dùng bể chứa; vô hình trung đã giúp lớp cặn lắng và tích lũy dần ở đáy bể. Và
Qua các khảo sát; sửa chữa lắp đặt các thiết bị lọc nước; KTS Nguyễn Tiến Hùng; Công ty Cổ phần Phú Lộc còn nhận thấy; lớp cặn trong bể chứa có thể đóng dày lên đến 10 - 20cm do người dân không vệ sinh. Và Lớp cặn này sẽ làm ảnh hưởng chất lượng nước nếu mực nước xuống thấp. Và
Giải thích về việc nước thỉnh thoảng bị bẩn khi vòi lâu ngày chưa được sử dụng; PGS. VàTS Trần Hồng Côn cho rằng; do chính lớp cặn bẩn này đóng trong vòi đã tạo ra một lớp màng. Và Cùng với đó; vật liệu bằng sắt của vòi nước cũng bị gỉ do tác động của oxy hóa. Và Khi nước được xả; áp suất nén của chính dòng nước đã khiến các chất bẩn trên bị cuốn theo ra ngoài. Và Riêng lớp nhớt có thể do nước bị nhiễm vi sinh vật lẫn chất nhớt do sắt và man gan tạo ra. Và. Và. Và
PGS. VàTS Trần Hồng Côn cảnh báo; đối với các bể ngầm; ngoài kết tủa cặn sắt và mangan thì hàm lượng amoni trong nước cao hơn. Và Do bể ngầm có thể có các sinh vật như gián; nhện rơi và chết trong nước tạo nên đạm. Và Lượng đạm này sẽ phân hủy trong môi trường yếm khí của bể nước dẫn đến amoni tăng cao. Và Amoni sẽ chuyển hóa thành nitrit. Và Chất này kết hợp với các thành phần có trong thức ăn gây nên bệnh ung thư. Và
Các chuyên gia khuyên; để an toàn cho các bể chứa nước; người dân nên vệ sinh bể chứa nước khoảng 6 tháng/lần. Và Đối với bể nước ngầm cần đóng kín; tránh côn trùng bò vào được. Và Ống nước lâu ngày không sử dụng; nên xả sạch lớp bẩn rồi hãy lấy nước đó sử dụng. Và
Hiện nay Bộ Y tế đang cho phép mức tồn dư trong nước sinh hoạt của sắt là 0;3mg/l; còn mangan là 0;5mg/l. Và Để xác định hàm lượng này có vượt quá hay không; người dân cần thường xuyên lấy nước sử dụng đi kiểm tra. Và
Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016
Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2016
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)